TIẾP CẬN SƠN MÀI VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ SƠN PHỦ HỌC (Bài 3)
Tóm tắt bài viết
(Cho đến nay, nhiều người thuộc thành phần chuyên gia hay hoạ sĩ chuyên về sơn mài ở Việt Nam vẫn luôn tự đắc cho rằng, sơn mài Việt Nam là của người Việt Nam, và chỉ người Việt Nam mới hiểu hết, mới đủ thẩm quyền nói về sơn mài. Khổ thật! Cái “văn hoá kinh nghiệm chủ nghĩa” khi đi cùng cái “văn hoá cửa quyền” nó cản trở con người ta mọi đàng - nhiều khi còn làm cho mù loà, nhỏ nhen… Thảm hoạ xảy ra với “Vườn Xuân” của Nguyễn Gia Trí ở Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, có thể xem là ví dụ.
Bằng gợi ý của “đệ từ” đang học ở xứ “giẫy chết”, tiếp cận sơn mài Việt Nam qua lĩnh vực SƠN PHỦ HỌC từ các nguồn dữ liệu tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức uy tín, tôi chạm được vào vô số bài học đắt giá…)
BẢN CHẤT HOÁ HỌC VÀ CƠ CHẾ ĐÓNG RẮN TỰ NHIÊN CỦA HỆ POLYMER SINH HỌC ĐÔNG Á
Ngành Sơn phủ học định nghĩa màng sơn mài tự nhiên Đông Á là một hệ polymer phân tán sinh học chất lượng cao, hình thành từ nhựa cây thuộc họ Đào lộn hột (Anacardiaceae). Dù cùng chung một cơ chế đóng rắn xúc tác sinh học, sự dị biệt về cấu trúc hóa học của monomer cốt lõi đã phân tách ba truyền thống sơn mài Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản ngay từ cấp độ phân tử.
Cả ba loại sơn đều không khô bằng cách bay hơi dung môi như các dòng sơn alkyd hay nitrocellulose hiện đại, mà thông qua phản ứng trùng hợp kết mạng không gian. Tác nhân kích hoạt là enzyme Laccase, một protein chứa đồng có sẵn trong nhựa thô. Enzyme này oxy hóa nhóm phenol trên vòng Catechol tạo thành các gốc tự do, sau đó các gốc này tấn công vào chuỗi hydrocarbon béo bên cạnh để nối mạch. Phản ứng đòi hỏi nghiêm ngặt các điều kiện vi khí hậu với nhiệt độ từ 20°C đến 30°C và độ ẩm tương đối từ 75% đến 85% nhằm duy trì hoạt tính cấu trúc của enzyme.
Sự khác biệt cấu trúc monomer quy định đặc tính cơ lý riêng biệt của từng loại màng phủ. Sơn mài Việt Nam, hay còn gọi là sơn ta, được khai thác từ cây Toxicodendron succedaneum mọc chủ yếu tại vùng đồi Phú Thọ. Thành phần hoạt tính chủ đạo là Laccol chiếm từ 50% đến 60%, đặc trưng bởi gốc phenol gắn chuỗi béo chứa 17 nguyên tử carbon (C17). Lượng nước tự nhiên trong nhựa thô của sơn ta rất cao, dao động từ 25% đến 30%.
Trong khi đó, sơn Trung Quốc và Nhật Bản, gọi chung là sơn Urushi, được chiết xuất từ cây Toxicodendron vernicifluum. Thành phần hoạt tính của chúng là Urushiol chứa chuỗi hydrocarbon ngắn hơn, gồm 15 nguyên tử carbon (C15). Hàm lượng hoạt tính Urushiol đạt mức rất cao, từ 60% đến 85%, trong khi lượng nước thấp dưới 20%.
Chuỗi béo C17 dài hơn của Laccol đóng vai trò như một chất hóa dẻo nội cấu trúc. Nó làm gia tăng khoảng cách tự do giữa các liên kết mạng không gian sau đóng rắn, khiến màng sơn ta Việt Nam luôn có độ dẻo dai cao, mô-đun đàn hồi thấp và chịu mài mòn cơ học mịn. Ngược lại, chuỗi C15 ngắn của Urushiol ép các liên kết mạng khít chặt, tạo ra mật độ kết mạng lớn. Màng sơn Trung Quốc và Nhật Bản sau khi khô đạt độ cứng bề mặt vượt trội, tính kháng dung môi cao nhưng giòn và dễ nứt khi chịu lực uốn gập đột ngột.
Độ nhớt và tốc độ sấy khô của màng cũng chịu chi phối bởi cấu trúc phân tử này. Lượng nước cao của sơn ta làm chậm tiến trình đóng rắn, màng sơn khô dần từ các lớp đáy đi lên bề mặt. Trạng thái dẻo ẩm kéo dài này là cơ sở kỹ thuật cốt lõi giúp nghệ nhân Việt Nam phát triển kỹ thuật mài nước chuyên sâu. Với sơn Urushi, hàm lượng Urushiol cao khiến màng đóng rắn nhanh chóng trên bề mặt ngay khi gặp độ ẩm phòng ủ. Khả năng đóng rắn láng mịn lập tức như một tấm thủy tinh màu thúc đẩy người Nhật và người Trung Quốc tiến hành các thao tác trang trí đắp nổi hoặc chạm khắc trực tiếp mà không cần mài sâu phẳng lại tầng nền.
HỆ THỐNG PHỦ VÀ TRIẾT LÝ XỬ LÝ BỀ MẶT QUANG HỌC
Từ góc độ công nghệ sơn phủ, cấu trúc màng sơn của ba quốc gia thể hiện ba phương pháp kiểm soát quang học bề mặt độc đáo, quyết định tính chất thẩm mỹ của từng dòng sản phẩm. Hệ thống phủ của Việt Nam sử dụng sơn cánh gián, loại sơn ta nấu chín đã được tách nước và tạp chất, làm môi trường truyền sáng trong suốt. Họa sĩ trồng nhiều lớp sơn màu kết hợp đắp hạt vỏ trứng, vỏ trai, thếp vàng bạc mờ chìm trong các lớp sơn trung gian.
Khi mài phẳng bằng than củi và nước, độ dẻo của Laccol cho phép bào mòn đồng đều các lớp mà không gây nứt nẻ hay trầy xước loang lổ bề mặt. Hệ thống hoàn thiện đạt hiệu ứng khúc xạ sâu, ánh sáng đi qua các lớp sơn trong suốt, chạm vào các hạt vật liệu đáy rồi phản xạ ngược lại, tạo ra sắc độ trầm ấm sâu thẳm trong lòng tranh.
Người Trung Quốc tận dụng độ cứng, độ bền hóa chất và tính đóng rắn nhanh của Urushiol để xây dựng hệ thống màng siêu dày. Họ quét chồng liên tục từ 100 đến hơn 300 lớp sơn lót màu, thường là màu đỏ son từ khoáng cinnabar hoặc màu đen từ oxit sắt, tạo thành một khối chất dẻo đồng nhất dày từ vài milimet đến vài centimet. Sau khi khối màng đạt độ đóng rắn tuyệt đối, nghệ nhân dùng dao đục đẽo thẳng vào lòng khối sơn cứng để tạo các hoa văn nổi. Triết lý này coi màng sơn như một chất liệu điêu khắc khối chứ không phải một màng mỏng trang trí phẳng.
Quy trình chế biến sơn Urushi của Nhật Bản loại bỏ triệt để nước tự nhiên dưới nhiệt độ thấp nhằm đẩy hàm lượng Urushiol lên mức tối đa để đạt độ láng phẳng tuyệt đối giống như sơn bóng gương của phím đàn piano. Người Nhật không áp dụng tư duy mài phá cấu trúc màng như Việt Nam mà sử dụng độ nhớt cao cùng lực bám dính bề mặt của Urushi để làm chất kết dính cố định cho kỹ thuật Maki-e và Raden. Nghệ nhân vẽ sơn ướt rồi rắc bột vàng bạc siêu mịn thông qua ống tre hoặc khảm các mảnh trai cực mỏng. Ánh sáng bị bẫy ngay trên lớp hoàn thiện ngoài cùng, phản xạ sắc nét thông qua các hạt kim loại nổi chứ không đi sâu vào lòng chất liệu.
CƠ CHẾ LÃO HOÁ VÀ TỔN HẠI HOÁ HỌC CỦA HỆ SƠN MÀI
Sự khác biệt về mật độ kết mạng polymer dẫn đến các cơ chế lão hóa vật lý và hóa học hoàn toàn dị biệt dưới tác động của môi trường ngoại sinh. Màng Laccol linh hoạt dẻo dai giúp tác phẩm sơn mài Việt Nam chịu đựng tốt sự giãn nở, co ngót của cốt vóc gỗ trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm. Tuy nhiên, khi chuyển sang môi trường xứ lạnh hanh khô, việc mất độ ẩm nội tại khiến cốt gỗ co rút mạnh, kéo theo màng sơn dẻo bị phồng rộp, nổi bong bóng hoặc xuất hiện các vết nứt chân chim sâu từ đáy đi lên.
Cấu trúc đa tầng phức tạp gồm cốt vóc gỗ, lớp bó vóc, các lớp sơn màu hữu cơ, các lớp kim loại quý và màng sơn phủ bảo vệ khiến tranh sơn mài Việt Nam rất nhạy cảm với các phản ứng hóa học. Các nghiên cứu bảo tồn tại Bảo tàng Quốc gia Nghệ thuật châu Á Guimet cho thấy việc sử dụng hóa chất có độ pH không trung tính sẽ phá hủy nghiêm trọng tính toàn vẹn của tác phẩm.
Chất kiềm mạnh từ xà phòng công nghiệp hoặc chất tẩy rửa gia dụng có khả năng phá hủy màng bảo vệ cánh gián, làm tan rã cấu trúc màu đệm siêu mỏng xung quanh các mảng vỏ trứng. Khi lớp màu đệm này bị xóa sạch, mảng vỏ trứng sẽ bị trơ trọi, mất đi sắc độ ấm áp mờ sương ban đầu và trở nên trắng bệch như vôi.
Đối với các lớp vàng lá và bạc thếp nằm ngầm dưới lòng sơn, sự xâm nhập của các dung môi hữu cơ phân cực mạnh như Acetone hoặc cồn nồng độ cao sẽ kích hoạt các phản ứng ăn mòn hóa học sâu. Bạc thếp phản ứng với các dẫn xuất lưu huỳnh hoặc axit trong dung môi kém tinh khiết sẽ tạo thành Bạc Sulfua, làm biến đổi màu sắc từ trắng bạc óng ánh sang xám đen kịt và triệt tiêu hoàn toàn khả năng phản xạ ánh sáng của tầng đáy tranh.
Đồng thời, các dung môi hydrocacbon thơm như Xylene hay Toluene có thể hòa tan lớp sơn thí dính bám bên dưới lá vàng, gây ra hiện tượng trôi dạt kim loại. Lớp vàng thếp mỏng bị vỡ vụn thành các hạt siêu nhỏ dưới tác động co ngót, làm lì mặt tranh và mất đi hiệu ứng thay đổi màu sắc theo góc nhìn của người xem.
Trái lại, cấu trúc mạng khít của sơn Urushi Nhật Bản và Trung Quốc có tính kháng axit, kháng kiềm và chịu nhiệt độ rất cao nhưng lại có điểm yếu cốt tử là sự nhạy cảm cực cao với tia cực tím. Bức xạ tử ngoại bẻ gãy các liên kết vòng thơm Catechol của Urushiol, khiến màng sơn cứng bị giòn hóa, phấn hóa bề mặt và bong tróc dạng vảy cứng trơ lỳ, làm mất hoàn toàn độ bóng gương đặc trưng.
Do đó, công tác phục chế hiện vật Urushi tập trung vào việc cô lập tia UV và dùng các chất keo tự nhiên có lực co kết cấu mạnh để dán ép các mảng vảy cứng mà không làm thay đổi chỉ số khúc xạ của bề mặt gương gốc.
SỰ TIẾP NHẬN TRI THỨC SƠN PHỦ HỌC TẠI VIỆT NAM: THÀNH TỰU VÀ THỰC TIỄN
Sự du nhập của ngành sơn phủ học và khoa học bảo tồn vào hệ sinh thái nghệ thuật Việt Nam đã tạo ra một cuộc chuyển dịch lớn, phân hóa rõ rệt trong hành vi của nghệ nhân làng nghề và nghệ sĩ đương đại. Tại các làng nghề truyền thống như Hạ Thái hay Tương Bình Hiệp, tư duy ủ sơn phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết cảm tính đã dần được thay thế bằng hệ thống buồng ủ vi khí hậu kiểm soát điện tử. Việc hiểu rõ bản chất hoạt động của enzyme Laccase cần độ ẩm ổn định giúp nghệ nhân làm chủ quy trình đóng rắn màng sơn ta, loại bỏ hiện tượng chết rạn bề mặt và nâng cao tỷ lệ sản phẩm mỹ nghệ đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Đối với các nghệ sĩ hội họa và nhà phục chế chuyên nghiệp, thành tựu lớn nhất nằm ở việc làm chủ công nghệ vật liệu cốt vóc thế hệ mới. Việc hiểu rõ ứng suất cơ học của màng polymer Laccol giúp các họa sĩ mạnh dạn thay thế cốt gỗ tự nhiên bằng gỗ công nghiệp MDF chống ẩm đạt chuẩn hoặc tấm composite cốt sợi thủy tinh. Sự cải tiến này khóa chặt độ ổn định của nền vóc, ngăn chặn lực kéo giật từ bên trong cốt gỗ và cho phép tác phẩm sơn mài Việt Nam di chuyển xuyên quốc gia mà không sợ bị phồng rộp bề mặt.
Đồng thời, việc ứng dụng sáp vi tinh thể (Microcrystalline Wax) để phủ bảo vệ sau khi mài phẳng đã giúp khóa chặt các lỗ xốp vi mô của màng Laccol, ngăn chặn tuyệt đối hiện tượng lưu huỳnh hóa làm đen lớp bạc thếp ngầm dưới lòng sơn.
Trong công tác bảo tồn di sản, các bảo tàng lớn đã bắt đầu số hóa và chuẩn hóa quy trình phục chế theo tiêu chuẩn quốc tế. Giới phục chế Việt Nam đang học cách tiếp nhận quy chuẩn can thiệp tối thiểu và tính khả đảo của phương Tây. Việc ứng dụng phổ hồng ngoại biến đổi Fourier giúp nhà bảo tồn xác định chính xác tuổi thọ của màng sơn và định danh các tạp chất, trong khi đèn UV dải sóng ngắn giúp bóc tách các mảng dặm vá sai quy chuẩn bằng sơn công nghiệp từ thế hệ trước.
Thay vì dùng dao cạo và hóa chất tẩy rửa mạnh, quy trình phục chế hiện đại ưu tiên áp dụng các dung dịch làm sạch sinh học có độ pH trung tính kết hợp enzyme tự nhiên để bóc tách bụi bẩn mà vẫn giữ toàn vẹn lớp màng bảo vệ cánh gián nguyên bản.
VIỄN CẢNH VÀ NHỮNG THÁCH THỨC HỆ THỐNG
Khi khoa học sơn phủ được hấp thụ sâu hơn, sơn mài Việt Nam hướng tới viễn cảnh hình thành một ngành khoa học bảo tồn di sản chính quy tại các trường mỹ thuật. Sự kết hợp giữa tư duy tạo hình hàn lâm, kỹ nghệ mài nước bản địa và kiến thức hóa học di sản sẽ cho ra đời một thế hệ chuyên gia bảo tồn chuyên nghiệp, có khả năng độc lập cứu chữa các bảo vật quốc gia.
Nghiên cứu chuyên sâu về thành phần hóa học của nhựa sơn Phú Thọ cũng mở ra triển vọng quy hoạch vùng trồng bền vững và xây dựng các nhà máy tinh chế nhựa sơn thô đạt chuẩn hóa-lý. Sơn ta Việt Nam không chỉ phục vụ nhu cầu hội họa nội địa mà còn có thể trở thành một mặt hàng lâm sản cao cấp xuất khẩu cho các trung tâm phục chế cổ vật Á Đông. Việc làm chủ sự tương thích hóa học giữa các màng ngăn cũng thúc đẩy các nghệ sĩ trẻ thử nghiệm những chất liệu lai, đưa sơn mài thâm nhập vào điêu khắc ngoài trời và nghệ thuật sắp đặt quy mô lớn.
Tuy nhiên, con đường chuyên nghiệp hóa này đang phải đối mặt với những thách thức ngặt nghèo đe dọa sự sinh tồn của chất liệu. Thách thức lớn nhất là sự suy giảm nghiêm trọng diện tích vùng nguyên liệu gốc tại Phú Thọ do hiệu quả kinh tế ngắn hạn của cây sơn thấp hơn các loại cây công nghiệp khác. Sự thiếu hụt nhựa sơn ta nguyên chất chứa chuỗi phân tử Laccol đặc trưng buộc nhiều xưởng sản xuất phải lạm dụng sơn điều hoặc sơn công nghiệp Polyurethane. Điều này vô tình triệt tiêu màng bảo vệ dẻo dai của sơn ta, làm chết độ sâu quang học khúc xạ đa tầng và làm mất đi bản sắc mài nước kinh điển của sơn mài Việt Nam.
Thách thức tiếp theo nằm ở rào cản đầu tư hạ tầng công nghệ bảo tàng. Hệ thống máy móc phân tích phòng thí nghiệm như máy đo quang phổ, máy hút chân không cốt vóc hay hệ thống kiểm soát vi khí hậu đồng bộ có chi phí vô cùng đắt đỏ, hiện đang nằm ngoài tầm tiếp cận của hầu hết các bảo tàng địa phương và xưởng nghệ sĩ tự do. Khi thiếu hụt hạ tầng đồng bộ, các kiến thức lý thuyết của sơn phủ học sẽ bị cô lập trên văn bản, không thể chuyển hóa thành các phác đồ thực hành bảo tồn diện rộng.
Cuối cùng, nguy cơ đứt gãy tri thức giữa hai thế hệ đang hiện hữu khi các nghệ nhân lão thành nắm giữ bí quyết pha chế sơn chín thủ công lại không am hiểu ngôn ngữ khoa học hiện đại, còn các nhà nghiên cứu trẻ có trình độ học thuật cao lại thiếu kinh nghiệm thực tế mài nước kéo dài hàng ngàn giờ trên cốt vóc thực cảnh.
TẠM KẾT
Dưới lăng kính của ngành sơn phủ học, nghệ thuật sơn mài Việt Nam không còn là một kỹ nghệ dân gian thuần túy phụ thuộc vào sự may rủi của thời tiết hay cảm tính của người thợ. Bản chất phân tử chuỗi dài C17 của Laccol đã định hình nên một triết lý thẩm mỹ hoàn toàn khác biệt với cấu trúc mạch khít C15 của Urushiol Nhật Bản và Trung Quốc.
Sự tiếp nhận khoa học sơn phủ và hóa học di sản chính là chìa khóa để giải phóng người nghệ sĩ khỏi những giới hạn vật lý của chất liệu, đồng thời đặt công tác bảo tồn các kiệt tác nghệ thuật thời Đông Dương vào một quy trình nghiêm ngặt, chuẩn xác. Để sơn mài Việt Nam phát triển bền vững, việc kết hợp giữa trực giác bàn tay nghệ nhân và tư duy phân tử của khoa học hiện đại là lộ trình bắt buộc nhằm bảo vệ lớp linh hồn hổ phách của dòng sơn ta bản địa trước những biến động của thời gian và môi trường toàn cầu.
NGUYÊN HƯNG
(Trích từ Folder “tài liệu tổng hợp” - đã được rút gọn)





